English


Thân chào các doanh gia cà phê,

-         Thị trường Hoa Kỳ:

 Để  tăng cường an ninh cho Hoa Kỳ sau biến cố ngày 11 tháng 09 năm 2001; năm 2002, Quốc hội Mỹ đã thông qua đạo luật Chuẩn bị và Đáp ứng về An ninh Sức khoẻ của Dân chúng cũng như phòng chống những sự khủng bố về sinh học, gọi tắc là Bioterrorism Act. Tống thống Hoa Kỳ George W. Bush đã ký thành luật vào ngày 12 tháng 6 năm 2002. Điều này có nghĩa là tất cả những công ty nhập cảng thực phẩm vào Hoa Kỳ phải đăng ký với cơ quan Quản lý Thuốc men và Thực phẩm của Hoa Kỳ, gọi tắc là FDA (Food and Drug Aministration) trước khi được nhập bất cứ loại hàng hóa tiêu dùng nào vào đất Mỹ. Nếu quý vị có những câu hỏi liên quan đến phương thức thẩm tra và khai báo, xin liên lạc với FDA ở số điện thoại 1-(800) 216-7331 hay (301) 575-0156. Có gì trở ngại hay không thông suốt vì sự phức tạp trên phương diện giấy tờ, xin quý vị vui lòng liên lạc với bộ phận thương mại quốc tế của công ty cà phê Hướng Dương ở số điện thoại (214) 243-6189. Chúng tôi sẽ sẵn sàng giúp đỡ quý vị.

  
-         Thị trường ngoài Hoa Kỳ:

 Giấy phép nhập cảng là điều trước tiên quý vị cần phải có. Giấy phép nhập cảng là một hình thức hợp pháp và tiện việc cho những thủ tục quan thuế. Mục đích của giấp phép nhập cảng bao gồm:

           § Kiểm soát loại hàng và số lượng hàng nhập cảng vào một quốc gia.
           § Kiểm soát sự xuất xứ của  hàng hóa.
       
§ Điều hòa sự mậu dịch ngoại thương, và
       
§ Chận đứng những người nhập cảng bấp hợp pháp. 

Nhiều quốc gia đòi hỏi những công ty nhập khẩu cần phải có những giấp phép đặc biệt cho từng chuyến hàng nhập khẩu. Nhưng nếu giá trị chuyến hàng thấp hơn những sự đòi hỏi đặc biệt nói trên thì không cần giấy phép.

 Thường thì văn phòng ngoại thương hay ngân hàng trung ương sẽ phát hành những giấp phép nhập khẩu. Có nhiều nước, giấp phép nhập khẩu có thể xin được từ những ngân hàng được sự ủy quyền từ chính phủ, ngoại trừ trường hợp của những loại hàng hóa đòi hỏi những giấy phép đặc biệt.

 Những đơn xin giấy phép nhập khẩu cũng có thể đòi hỏi phải kèm theo giấy tờ minh xác việc bán hàng từ những công ty xuất khẩu (pro foma invoice). Thường thì phải trả tiền lệ phí cho giấy phép nhập khẩu.

 Nhiều quốc gia đòi hỏi những công ty nhập khẩu phải đóng một số tiền đặc cọc khoảng chừng 20%, có khi đến 100%, số tiền của những hóa đơn; trước khi giấy phép nhập khẩu được ban hành. Tiền này có thể là tiền của quốc gia đó, nhưng thường thì phải là những công trái hay công quỹ theo Mỹ kim. Có những quốc gia tiền đặc cọc chỉ là thơ chứng minh có uy tín, gọi tắc là LC (Letter of Credit) sau khi giấy phép nhập khẩu đã ban hành. Nhớ là không phải trước khi ban hành giấy phép nhập khẩu.

 Những công ty nhập khẩu cũng có thể phải trình giấy môn bài để xin giấy phép nhập khẩu. Phương thức này sẽ chận lại những người nhập khẩu hàng hóa bất hợp pháp.

 Một số quốc gia, giấy phép nhập khẩu được cấp phát một lần và có thể xử dụng để nhập được những chuyến hàng khác, ngoại trừ trường hợp những hàng hóa đòi hỏi những giấy phép đặc biệt.

 LC từ những quốc gia của những công ty nhập khẩu có thể đặt điều kiện là giấy phép nhập khẩu hay số giấy phép phải nằm trên tất cả những văn kiện xuất khẩu. Nếu không, ngân hàng sẽ từ chối những văn kiện không có số giấy phép nhập khẩu.

 Dù có sự khác nhau như thế nào trong thương mại giữa những quốc gia, những thủ tục sau đây là phương thức hướng dẫn cho những công ty quốc tế giao dịch thương mại với công ty cà phê Hướng Dương   

 Danh từ “Người bán” từ bây giờ trở đi có nghĩa là “công ty cà phê Hướng Dương”.
 Danh từ “Người mua” từ bây giờ trở đi có nghĩa là “công ty của quý vị”

 Thơ chứng minh có uy tín: LC (Letter of Credit)

 1st. Người bán và người mua sẽ đồng ý với nhau bằng một hợp đồng mua bán. Phương thức trả tiền thông thường là bằng một thơ chứng minh có uy tín – LC.

 2nd. Người mua sẽ đệ đơn lên ngân hàng của mình, thường thì là ngân hàng của người mua, để xin LC và LC này thường thiên vị và bảo vệ cho người bán hơn là người mua.

 3rd. Ngân hàng phát hành LC sẽ yêu cầu một ngân hàng khác, thường thì ngân hàng của người bán, để biết được và minh chứng được uy tín của người mua.

 4th. Ngân hàng được yêu cầu, thường thì là ngân hàng của người bán, sẽ gởi LC đó cho người bán để thông báo cho người bán những điều khoản và điều kiện của uy tín về người mua.

 5th. Nếu những điều khoản và điều kiện đúng theo hợp đồng mua bán. Người mua sẽ chuẩn bị hàng hóa, văn kiện và sắp sếp để mang hàng hóa đến những công ty vận tải.

 6th. Người bán sẽ đệ trình những văn kiện chứng minh việc gởi hàng hóa, hóa đơn đến ngân hàng có tên trong LC, thường thì là ngân hàng của người bán, hoặc bất cứ ngân hàng nào đồng ý để thương lượng trong những điều khoản uy tín của người mua,

 7th. Ngân hàng sẽ xem xét những văn kiện và hóa đơn. Nếu đúng theo điều khoản quy định, ngân hàng sẽ trả tiền hay thương lượng với người bán.

 8th. Nếu không là ngân hàng phát hành LC, ngân hàng sẽ gởi những văn kiện và hóa đơn tới ngân hàng phát hành LC.

 9th. Ngân hàng sẽ xem xét những văn kiện và hóa đơn. Nếu đúng theo điều khoản qui định, ngân hàng sẽ trả tiền đu’ng theo giao kèo cho người bán.

 10th. Văn kiện sau đó sẽ được gởi đến người mua sau khi người mua đã trả tiền hay là những thỏa thuận đồng ý giữa người mua và ngân hàng.

 11th. Người mua sẽ trả những hóa đơn vận chuyển cho những công ty vận tải để nhận hàng hóa.

 INCOTERMS

 Những điều khoản thương mại quốc tế -- INCOTERMS (International Commercial Terms) là những cấu từ phổ thông được thừa nhận trong thị trường thương mại quốc tế, như là FOB, CFR, và CIF. Những từ ngữ này được Phòng Thương Mại Quốc Tế  -- ICC (International Chamber of Commerce) tại Paris, Pháp phát triển. Đây là những từ ngữ định nghĩa bổn phận và trách nhiệm về pháp lý giữa người bán và người mua. Những từ ngữ này rất giá trị v ì nó tiết kiệm được thời gian trong vấn đề thương lượng. Thí dụ, một khi người bán và người mua đồng ý dùng cấu từ FOB thì họ sẽ không cần thương lượng chi nữa, vì trong từ ngữ FOB đã hàm chứa là ai phải trả tiền cho vận chuyển và bảo hiểm cũng như tất cả những rủi ro khác.

 FOB (Free On Board).
 +  Cách dùng: FOB (+ Tên Hải cảng nơi xuất khẩu)

Người bán sẽ chịu mọi trách nhiệm cho đến khi hàng hóa nằm trên tàu vận tải tại cảng xuất xứ. Người mua sẽ chịu mọi trách nhiệm còn lại cho vận chuyển và bảo hiểm cũng như tất cả những rủi ro khác.

 + Thí dụ: FOB Nha Trang Port, FOB San Francisco Port.

 Theo luật của INCOTERMS năm 1990, từ ngữ FOB chỉ đươc dùng cho hàng hóa vận chuyển bằng đường thủy. Tuy nhiên nhiều công ty xuất nhập cảng vẫn dùng cấu từ FOB cho hàng hóa vận chuyển bằng phương tiện hàng không.

 Ở Bắc Mỹ châu, cấu từ FOB còn được dùng trong những việc khác. Nhiều công ty ở Canada và Hoa Kỳ đã quen dùng từ ngữ FOB (+ Nơi Xuất Xứ) và FOB (+ Nơi Nhận Hàng).

 FOB(+ Nơi Xuất Xứ) có nghĩa là người mua chịu trách nhiệm cho vận chuyển, bảo hiểm và những rủi ro khác. FOB (+ Nơi Nhận Hàng) có nghĩa là người bán chịu trách nhiệm vận chuyển, bảo hiểm và những rủi ro khác cho đến khi nào hàng hóa đến cơ sở của người mua. Trách nhiệm này có thể bao gồm cả những chi phí quan thuế, và  thuế má ở nơi người mua đang ở.

 Trong những dịch vụ thương mại quốc tế, tránh dùng cấu từ FOB (+ Nơi Xuất Xứ) và FOB (+ Nơi Nhận Hàng) vì những cấu từ này không có trong INCOTERMS.

  

CFR (Cost and Freight)
 + Cách dùng: CFR (+ Tên Hải cảng của nơi nhận hàng)

Người bán sẽ chịu trách nhiệm vận chuyển hàng hóa đến hải cảng nơi nhận hàng. Người mua sẽ trách nhiệm cho bảo hiểm và những rủi ro khác. Cấu từ CFR trước kia được viết là C&F. Rất nhiều công ty xuất và nhập cảng trên thế giới vẫn còn dùng từ C&F.

 + Thí dụ: CFR New York, New York.   CFR Long Beach, California.

Theo luật của INCOTERMS năm 1990, cấu từ C&F được dùng cho hàng hóa vận chuyển theo đường biển. Tuy nhiên, trong thực tế, cấu từ C&F vẫn được dùng cho hàng hóa vận chuyển theo đường hàng không.

 

 CIF (Cost, Insurance and Freight)
 + Cách dùng: CIF (+ Tên Hải cảng của nơi nhận hàng hóa)

 Người bán sẽ chịu trách nhiệm vận chuyển và bảo hiểm cho đến khi hàng hóa đến hải cảng nơi nhận hàng. Người mua sẽ chịu trách nhiệm những chi phí về quan thuế và tất cả những chí phí cũng như rủi ro khác.

 + Thí dụ: CIF Boston. Massachusetts.  CIF Taiwan

 Theo luật của INCOTERMS năm 1990, cấu từ CIF được dùng cho hàng hóa vận chuyển theo đường biển. Tuy nhiên, trong    thực tế, cấu từ CIF vẫn được dùng cho hàng hóa vận chuyển theo đường hàng không.

 


Director of Global Operation
Email: peter@cafehuongduong.com